Chiến thuật làm bài “True/False/Not Given” và “Yes/No/Not Given”

Điểm khác biệt giữa 2 dạng bài “True/False/Not Given” và “Yes/No/Not Given”

Hai dạng này được gọi chung là “Verification Questions” vì yêu cầu bài thực chất là kiểm chứng xem những nhận định được đưa ra có chính xác hay không. Nhưng sự khác nhau giữa hai dạng này chính là ở “True/False” và “Yes/No”. Khi làm dạng bài “T/F”, thí sinh sẽ cần phải kiểm chứng xem nhận định của đề bài có thống nhất với thông tin được đưa ra trong văn bản hay không; vì vậy những văn bản có dạng bài này thường là văn bản có tính thuyết minh, học thuật cao. Còn ở dạng bài “Y/N” thì chúng ta cần phải kiểm chứng xem những nhận định ấy có đồng tình với ý kiến của tác giả hay không (ý kiến của tác giả thường được đưa ra gián tiếp qua những câu từ trong bài), vì vậy những bài đọc có chứa dạng này thường là quan điểm, ý kiến riêng của tác giả về một chủ đề nào đó.

Tuy nhiên, bản chất của cả 2 dạng vẫn là “Verification”, nên hoàn toàn có thể sử dụng cùng một cách tiếp cận cho cả hai.

Small difference, Same approach!

Các bước làm bài dạng “T/F/NG” và “Y/N/NG”

B1: Đọc và xác định từ khóa trong đề bài

Từ khóa là các từ có vai trò then chốt với ý nghĩa của cả câu. Xác định và phân biệt được rõ ràng các từ khóa sẽ giúp việc tìm đoạn cần đọc và phân tích thông tin dễ dàng hơn

  • Có một số từ khóa cần đặc biệt chú ý đến như các động từ tình thái (think, want, guess…), các trạng từ chỉ tần suất (always, usually, sometimes…), các từ chỉ mức độ (all, most, some…) Ví dụ: always nếu thay bằng một từ khác là usually thì mặc dù cả hai từ đều chỉ tần suất cao, nhưng ý nghĩa của câu lúc đó đã khác hoàn toàn.

B2: Scan tìm các từ khóa ấy trong bài văn để xác định vị trí có thông tin cần đọc

Cần lưu ý rằng các từ khóa kể trên thường sẽ không xuất hiện y hệt trong bài đọc, mà sẽ được thay bằng các cụm từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc thậm chí cả một câu văn có ý tương đồng. Vậy nên thí sinh cần tránh việc chỉ chăm chăm tìm từ giống hệt, sẽ rất dễ bị bẫy hoặc gây nhiễu thông tin.

B3: Đọc kĩ mẩu thông tin đã xác định được, phân tích thông tin đó và tiến hành đối chiếu với nhận định của bài

Lí do chúng ta phải đọc kĩ là vì cần nắm được ý nghĩa của mẩu thông tin này, rồi xác định những đoạn thông tin trong đó có ý nghĩa tương đồng với các từ khóa của đề bài. Việc xác định được những chi tiết nào từ hai nguồn thông tin là tương ứng với nhau sẽ khiến cho công đoạn đối chiếu cực kì đơn giản.

Cụ thể: nếu như trong nhận định của đề bài có 4 từ khóa chính, ta phân chúng ra thành 4 thành phần A, B, CD. Sau đó khi đọc kĩ mẩu thông tin của bài đọc, ta xác định được các thông tin có ý nghĩa tương đồng với chúng, được đặt tên là A’, B’, C’D’. Tức là AA’ biểu đạt tương đồng với nhau, BB’ nói đến cùng một đối tượng, và tương tự với CC’, DD’.

Lúc này sẽ có 3 trường hợp xảy ra, tương đương với 3 đáp án của bài:

  • Nếu A = A’, B = B’, C = C’ và D = D’: tức là các thông tin tương ứng hoàn toàn giống nhau về nghĩa, không hề có sự phủ định hay thiếu sót nào

=> Đáp án chính là TRUE (YES) – nhận định đúng hoàn toàn.

  • Nếu A = A’, B = B’, C = C’ nhưng D ≠ D’, tức là một trong số các thông tin tương ứng có sự phản bác hoặc mâu thuẫn với nhau

=> Đáp án chính là FALSE (NO) – nhận định sau.

  • Nếu A = A’, B = B’, C = C’ nhưng không có thông tin D’ nào tương ứng với D (D’ không tồn tại)

=> Đáp án chính là NOT GIVEN – không có thông tin được đề cập tới.

Lưu ý:

  • Trong khi thu thập thông tin cần đọc và nắm được ý của các câu văn chứ không được quá chú ý vào tìm từ. Việc tìm từ khóa sẽ chỉ giúp chúng ta trong việc xác định vị trí để đọc mà thôi.
  • Luôn luôn nhớ rằng từ khóa đa phần sẽ xuất hiện dưới dạng thông tin gần nghĩa hoặc đồng nghĩa chứ ít khi được lặp lại, tránh bị bẫy hoặc mất thời gian với thông tin gây nhiễu.
  • Trình tự xuất hiện của các câu sẽ là theo trình tự của bài đọc, vậy nên có thể khoanh vùng thông tin dựa trên những câu đã làm được.

Practice

The float process for making flat glass was invented by Alistair Pilkington. This process allows the manufacture of clear, tinted and coated glass for buildings, and clear and tinted glass for vehicles. Pilkington had been experimenting with improving the melting process, and in 1952 he had the idea of using a bed of molten metal to form the flat glass, eliminating altogether the need for rollers within the float bath. The metal had to melt at a temperature less than the hardening point of glass (about 600°C), but could not boil at a temperature below the temperature of the molten glass (about 1500°C). The best metal for the job was tin.

(…)

Pilkington built a pilot plant in 1953 and by 1955 he had convinced his company to build a full-scale plant. However, it took 14 months of non-stop production, costing the company £100,000 a month, before the plant produced any usable glass. Furthermore, once they succeeded in making marketable flat glass, the machine was turned off for a service to prepare it for years of continuous production. When it started up again it took another four months to get the process right again. They finally succeeded in 1959 and there are now float plants all over the world, with each able to produce around 1000 tons of glass every day, non-stop for around 15 years.

(…)

The principle of float glass is unchanged since the 1950s. However, the product has changed dramatically, from a single thickness of 6.8 mm to a range from sub-millimetre to 25 mm, from a ribbon frequently marred by inclusions and bubbles to almost optical perfection. To ensure the highest quality, inspection takes place at every stage. Occasionally, a bubble is not removed during refining, a sand grain refuses to melt, a tremor in the tin puts ripples into the glass ribbon. Automated on-line inspection does two things. Firstly, it reveals process faults upstream that can be corrected. Inspection-technology allows more than 100 million measurements a second to be made across the ribbon, locating flaws the unaided eye would be unable to see. Secondly, it enables computers downstream to steer cutters around flaws.

Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 109?
Write:
TRUE if the statement agrees with the information
FALSE if the statement contradicts the information
NOT GIVEN if there is no information on this

1. The metal used in the float process had to have specific properties.
2. Pilkington invested some of his own money in his float plant.
3. Pilkington’s first full-scale plant was an instant commercial success.
4. The process invented by Pilkington has now been improved.
5. Computers are better than humans at detecting faults in glass.

 

Giải thích đáp án

1. TRUE

Nếu như trong câu này chúng ta áp dụng công thức ở trên thì:

“The metal used in the float process had to have specific properties.”

Gọi “metal” là từ khóa A, “float process” là từ khóa B, “have specific properties” là từ khoá C.

  • Ở đầu đoạn The float process for making flat glass…” cho biết rằng nội dung đoạn sẽ nói về quá trình “float”
    • => B’ = B “float process”
  • “…the idea of using a bed of molten metal…” trong phương pháp này có sử dụng đến kim loại nóng chảy
    • => A’ = A “metal”
  • “The metal had to melt… but could not boil…” đây chính là các đặc tính mà kim loại ấy cần phải có
    • => C’ = C “specific properties”

Vậy là ở trong câu 1, các thông tin tương ứng từ đề bài và bài đọc đều thống nhất với nhau, không hề thiếu sót hay có sự phản bác nào => Đáp án là TRUE

2. NOT GIVEN

Trong bài chỉ nhắc đến việc công ty xây dựng nhà máy “he had convinced his company to build a full-scale plant” chứ không hề nói rằng việc này sử dụng tiền của Pilkington hay không.

3. FALSE

Dòng 2, 3 đoạn thứ hai: “However, it took 14 months … before the plant produced any usable glass.” Tức là nhà máy phải trải qua một khoảng thời gian lỗ trước khi sản xuất và bắt đầu việc thương mại được nên “instant commercial success” là sai.

4. TRUE

Dòng 1-3 đoạn thứ ba: “However, the product has changed dramatically, … almost optical perfection.” Các kỹ thuật mới được nhắc đến trong đoạn văn trước đó đã mang đến những thay đổi (cải thiện) rõ rệt ở sản phẩm.

5. FALSE

3 dòng cuối đoạn thứ ba: “Inspection technology allows … the unaided eye would be unable to see.” Công nghệ có thể chỉ ra được những sai sót mà mắt thường không thể thấy được.

“Inspection technology” là nói đến các “computers”.

“unaided eye” chỉ mắt thường của con người.

2 thoughts on “Chiến thuật làm bài “True/False/Not Given” và “Yes/No/Not Given”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tư vấn